Ai chơi cờ Tướng cũng đặt ra các câu hỏi: Cờ Tướng xuất hiện vào thời đại nào, ở đâu trước tiên? Nó có liên quan gì đến cờ Vua? Các câu hỏi trên, đã có nhiều cách trả lời khác nhau nhưng cho đến nay chưa có cách lý giải nào rõ ràng, đầy đủ. Giữa cờ Tướng với cờ Vua chắc chắn có mối quan hệ khăng khít, nhưng loại nào xuất hiện trước, loại nào ra đời sau, ai học tập ai, cũng chẳng có mấy người trình bày thuyết phục. Điều mọi người có thể thống nhất nhận định là cờ Vua khởi nguyên từ Ấn Độ, còn cờ Tướng bắt nguồn từ Trung Quốc, và cả hai đất nước vĩ đại này đều là những trung tâm kinh tế, văn hóa sớm phát triển, có sự giao lưu nhiều mặt từ trước công nguyên cả ngàn năm.
Tuy chưa rõ nguồn gốc và lịch sử hình thành của cờ Tướng như thế nào nhưng một số nhà nghiên cứu và khảo cổ học của Trung Quốc cho rằng cờ Tướng có một quá trình lịch sử hình thành rất lâu dài. Bởi không phải ngay từ đầu xa xưa người ta có thể bày ra được cùng một lúc tất cả các quân và định ra được mọi luật chơi. Phải trải qua nhiều giai đoạn lịch sử cách tân, cải tiến, bổ sung và đổi mới, cờ Tướng từng bước mới được hoàn thiện dần từ bàn cờ, quân cờ đến các quy tắc, luật chơi. Những nhà nghiên cứu nặng tinh thần Hoa Hạ thường dựa vào các văn bản, các tài liệu văn học cổ xưa để nêu ra nhiều suy đoán có nội dung lờ mờ. Chẳng hạn, một số người căn cứ vào câu “Côn tế tượng kỳ” ghi trong thiên “Chiêu hồn” của Tống Ngọc và câu “Đấu tượng kỳ nhi vũ Trịnh nữ” trong tác phẩm “Thuyết Uyển” của Lưu Hướng để suy đoán cờ Tướng xuất hiện từ thời Chiến quốc. Có người căn cứ mấy chữ viết trên bàn cờ “Hán Sở tranh hùng” để cho rằng loại cờ này do Hàn Tín bày ra khi ông này được phong Soái. Một số người khác dựa vào quyển “Huyền Quái lục” của Ngưu Tăng Nhu đời Đường để cho rằng cờ Tướng ở thời kỳ này đã có bước phát triển. Vì sách ghi trong mục “Thần thoại cố sự” rằng: “Đời Đường Túc Tông năm Bảo Ứng nguyên niên (tức năm 762 sau công nguyên) có người Sầm Thuận ở Nhữ Nam cất nhà trên núi Lư Thị, đêm ngủ nằm mộng thấy có hai vị tướng quân bày trận giao tranh nhau, mỗi bên đều có Tướng, Mã, Xa, Tốt. Khi tỉnh dậy, Sầm Thuận đào ngay nền đất, phát hiện phía dưới có một ngôi mộ cổ. Trong mộ có một chiếc giường vàng dành để chơi cờ các quân bày đầy trên bàn cờ ‘...đang hình thành thế trận “Tượng hí hành Mã”’. Dù nhận định cờ Tướng thời kỳ này có bước phát triển nhưng các nhà nghiên cứu cũng phải thừa nhận nó rất giống cờ Vua. Chính xác hơn là nó giống cờ của Ấn Độ, cũng có 32 quân và bàn cờ có 64 ô. Các quân cờ thời đó đều có hình lập thể, chứ không phải hình tròn mặt bẹt. Những nhà nghiên cứu Trung Quốc nhìn nhận loại cờ cổ của Ấn Độ được truyền sang Iran rồi qua châu Âu, và tại đây nó được cách tân, thay đổi luật chơi để trở thành cờ Vua nhưng họ không thừa nhận loại cờ này, khi truyền vào Trung Quốc được cách tân, để trở thành cờ Tướng.
Người Việt Nam ở mọi miền vẫn quen gọi là cờ Tướng nhưng người Trung Quốc thì gọi là “Tượng kỳ”. Một thời người Trung Quốc tranh luận về chữ “Tượng”, đa số bảo Tượng là voi, nói chính xác âm chỉ “ngà voi” vì thời trước quân cờ làm bằng ngà, chứ quân Tượng không phải là nhân vật chính trên bàn cờ. Nhưng gần đây, một số người giải thích lại rằng “Tượng là hình tượng, tượng trưng” chứ không phải là quân voi hay ngà voi (Thật ra 2 chữ này viết khác nhau bởi chữ nhân đứng, xưa nay chẳng ai nhầm lẫn). Rồi họ khẳng định tiền thân của Tượng kỳ là “Lục bác ký”, một loại cờ rất thịnh hành vào thời kỳ đó. Theo các luận điểm này thì cờ Tướng đã xuất hiện trên 2.000 năm nay (khoảng từ năm 402 đến 221 trước công nguyên). Tất nhiên cờ Tướng thời kỳ đó chưa phải là loại cờ Tướng mà chúng ta chơi ngày nay. Bởi vì cờ Tướng cổ đại không có các quân Pháo. Chỗ này người ta không nêu rõ: nếu thiếu 4 quân Pháo của cả hai bên thì quân số trên bàn cờ là bao nhiêu? 28 hay 32 và gồm những loại quân gì?
Thật ra, ngay thời Đường Túc Tông, các nhà nghiên cứu đã nói rõ nó gồm có 32 quân, nhưng không giống loại cờ ngày nay, bởi vì nó vẫn chưa có Pháo, đồng thời có một số “quân cờ lạ”. Đến đời Bắc Tống (khoảng 960 - 1126 sau công nguyên) nghĩa là phải trải qua thêm 160 năm nữa thì các quân cờ và luật chơi từng bước được đổi mới. Chúng ta xem bài thơ của nhà Lý học Trình Hạo ở cuối thời Bắc Tống để hiểu rõ hơn. Bài thơ viết:
“Đại đô bác dịch giai hí kịch.
Tượng hí phiên năng học dụng binh.
Xa, Mã thượng tôn chu chiến pháp.
Thiên, Bì kiêm lược Hán quan danh.
Trung quân bát diện Tướng quân trọng,
Hà ngoại tiêm tà bộ Tốt khinh.
Khước bằng văn thư liêu tự tiếu.
Hùng như Lưu, Hạng diệc nhàn tranh!”
Qua bài thơ, ta thấy ngay thời Bắc Tống, các quân cờ ngoài Tướng, Mã, Xa, Tốt còn có các quân Thiên, Bì mà sau này gọi là Sĩ, Tượng. Trên bàn cờ đã xuất hiện “trung quân bát diện” sau này thành “cửu cung” và “hà ngoại” tức là đã có con sông ngăn cách hai bên để Tốt khi đã qua sông thì được quyền đi ngang. Cũng trong thời kỳ này Quĩ Vô Cửu (Triều Vô Cửu) soạn “Quảng Tượng kỳ đồ” có viết trong lời tựa: “Bàn cờ ngang dọc có 11 đường, quân cờ có 32 con...” Như vậy cờ Tướng từ thời Bắc Tống đã có nhiều thay đổi rõ hơn nhưng vẫn chưa phải là kiểu chơi ngày nay, vì bàn cờ và quân cờ chưa hoàn toàn giống như hiện tại. Việc đưa Pháo vào để thử nghiệm, có thể thời kỳ này còn mò mẫm, chưa hoàn toàn thống nhất, nên chưa chính thức được nhìn nhận.
Nếu căn cứ vào những điểm cụ thể, rõ ràng được nêu trong các tác phẩm trên, thì không có cơ sở để suy đoán rằng cuộc cải cách, thử nghiệm đưa các quân Pháo vào thay bớt đám Tốt đã diễn ra trong thời đại Nhà Đường. Mặc dù thời kỳ này người Trung Quốc đã sáng chế được loại Pháo bắn đá và đã sử dụng trong các cuộc chiến tranh, đồng thời ngay đầu thế kỷ thứ 10 hỏa dược hay thuốc nổ đã được tìm ra. Nhưng xét về hoàn cảnh xã hội, thời Nhà Đường cuộc sống thanh bình, ổn định không lâu và giai đoạn cuối hơn một trăm năm loạn lạc, xã hội đói khổ lầm than, không thể có phát kiến gì đáng kể (Từ loạn An Lộc Sơn, loạn Vương Tiên Chi đến loạn Hoàng Sào kéo dài từ năm 755 đến năm 883 mới dứt). Mà nếu đã có những sáng tạo gì mới thì các bài thơ, bài phú, bài từ... liên quan đến Tượng kỳ thời Tống phải đề cập đến rồi. Vậy thì cuộc cải cách có ý nghĩa lịch sử này đã diễn ra vào thời đại nào? Những nhà nghiên cứu có thái độ khách quan, khoa học đều xác nhận: Phải đến cuối thời Nam Tống (1201 - 1276) cuộc cải cách này mới diễn ra mạnh mẽ, từ thử nghiệm đến hoàn thiện. Những người này đã căn cứ vào bài “Tượng dịch” là bài thơ ngũ ngôn trường thiên của Lưu Khắc Trang để khẳng định những yếu tố mới được cải cách. Chẳng hạn bài thơ không nhắc gì đến các quân “Thiên, Bì” mà đã đề cập đến các quân “Sĩ, Tượng”:
“... Côn Dương dĩ Tượng bôn.
Trần Đào dĩ Xa bại,
Thất Mã, Quách lịnh lai.
Nhất Sĩ cấp điểm tại...”
Lưu Khắc Trang cũng đã nói đến quân Pháo là một loại binh chủng được bổ sung trên bàn cờ khi đổi Thiên, Bì bằng Sĩ, Tượng:
“... Viễn Pháo vật hư phát,
Những Tốt yếu tinh thái,
Phụ phi do cô thiểu!
Thắng khởi hệ cường đại...”
Từ những tư liệu văn học trên, các nhà nghiên cứu đã thống nhất nhận định rằng: Cờ Tướng khởi nguyên từ loại trò chơi của tầng lớp vua chúa, quý tộc, xuất hiện vào thời Chiến quốc (trước công nguyên 1.000 năm) cũng gọi là Tượng kỳ, nhưng còn rất đơn giản. Trải qua một thời kỳ lịch sử lâu dài đến đời Đường nó mới phát triển thành một dạng cờ Tướng nhưng chưa có các quân Pháo. Đến đời Tống, khoảng đầu thế kỷ 12, người ta mới bày thêm các quân Pháo, giảm bớt Tốt và định rõ các quân Sĩ, Tượng. Còn bàn cờ vẫn chưa hoàn toàn thống nhất: Nên có 9 đường dọc hay nhiều hơn, đường ngang nên 10 hay 11; chỗ tại vị Tướng có nên hình thành cửu cung hay vẫn để như cũ cho Tướng tự do đi lại; ngay chính giữa bàn cờ có nên phân định ranh giới bằng một con sông? Tranh cãi một thời gian mới thống nhất. Đến cuối thế kỷ 12 và đầu thế kỷ 13, cờ Tướng mới thực sự hoàn chỉnh từ bàn cờ, quân cờ đến các qui tắc, luật chơi. Từ đó nó mới bắt đầu được phổ biến rộng rãi trong cung đình, trong binh sĩ, trong dân gian và trở thành một trong những trò chơi lôi cuốn, hấp dẫn nhất. Ở đây cần nói rõ thêm: việc đưa thêm Pháo vào bàn cờ có thể hiểu là một cuộc mò mẫm kéo dài hàng trăm năm chứ không đơn giản là một cuộc cải cách chóng vánh. Trên thực tế, vào thế kỷ thứ 7 - 8, người ta đã chế tạo ra được Pháo là loại vũ khí áp dụng theo nguyên tắc đòn bẩy để bắn những tảng đá to vào trận địa địch. Đầu thế kỷ thứ 10 người ta đã tìm ra thuốc nổ và sau này biết dùng nó để tống viên đạn bay đi xa hơn, chữ Pháo viết bộ Thạch chuyển thành bộ Hỏa; nhưng chính người châu Âu mới đem thuốc nổ vào chiến tranh đầu tiên. Còn người Trung Quốc tìm ra thuốc nổ trước nhưng không biết tác dụng của nó, và để đưa được hình tượng Pháo vào trò chơi càng chậm hơn.
Danh sách bài
Chưa có bài trong chương này.
